Sơn La – Điểm đến của du khách
Đến với Sơn La- Tây Bắc là bạn đến với xứ sở của hoa ban trắng, vùng núi non hùng vĩ, nơi sinh sống của cộng đồng 12 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó thân thương. Với truyền thống lịch sử, văn hoá truyền thống lâu đời với bao chuyện dân gian, ca dao và những làn điệu xoè quấn quýt bên câu Khắp, lời Đang say đắm lòng người.
Kỳ I: Nơi vẻ đẹp hoang sơ đầy quyến rũ
Sơn La là miền đất còn hoang sơ thuần khiết của rừng, của núi, của những dòng suối nước trong veo, của những thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ và cả tấm lòng chân chất, hiếu khách của người dân sở tại. Mùa xuân về, hoa ban, hoa đào, hoa mơ, hoa mận nở trắng khắp núi rừng Tây Bắc càng tô đẹp thêm cho quê hương giàu truyền thống cách mạng và bản sắc văn hoá.
Về với Sơn La, du khách sẽ được ngắm nhìn những cảnh đẹp hùng vĩ mà nên thơ của thiên nhiên ban tặng, như Hang Dơi, thác Dải Yếm, thác Chiềng Khoa (Mộc Châu), hang bản Thẳm (Tông Lạnh- Thuận Châu), hang Bia Quế Lâm Ngự Chế (Thành phố Sơn La), hang Chi Đảy (Yên Châu)… và để tận hưởng không khí trong lành của vùng khí hậu ôn đới đang quyện hòa cùng hương chè Tà Xùa đậm chát của xứ sở mây trắng hay ngan ngát của hương chè vùng Thảo Nguyên xanh. Nơi đây, có hang Bia Quế Lâm Ngự Chế – nơi ghi dấu bút tích của Vua Lê Thái Tông năm 1440 với bài thơ được khắc trên vòm hang vách đá, đã khẳng định lịch sử, truyền thống hàng nghìn năm trước, nay đang trở thành điểm du lịch về nguồn cội hấp dẫn du khách thập phương. Hang bản Thẳm (Tông Lạnh) dài hơn km với 2 cửa hang thông ngang 2 sườn núi. Nơi đây từng là kho chứa vũ khí lớn nhất của quân đội ta trong chiến dịch Tây Bắc làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm Châu, chấn động địa cầu. Hang Chi Đảy, là một danh thắng mới được phát hiện và đi vào khai thác trong vòng 2-3 năm trở lại đây. Hàng ngày, đã có hàng ngàn lượt du khách hiếu kỳ về thăm, vãn cảnh, leo núi, khám phá những vẻ đẹp thiên tạo, như: Động thiên cung, tượng con voi, ruộng bậc thang, mâm quả na… tất cả đều bằng đá, lung linh, kỳ bí, huyền ảo. Hang Dơi (Mộc Châu) được ví như một “Tây Thiên Đệ Nhất Động”, với những vẻ đẹp tiềm ẩn của miệng rồng, cung điện nhà trời, huyền thoại hồ nước, khó báu nhà trời… với 3 động chính và khai hội hàng năm vào dịp Tết độc lập 2-9.
Mùa xuân, mặt hồ sông Đà mênh mang sóng nước, là thời điểm lý tưởng để du khách thập phương đến thăm các hang động đẹp nằm trên hồ Hoà Bình thuộc địa phận Sơn La như: Hang Mưa, Hang Miếng, Hang Lòm (Quang Minh), hang Tắng (Đá Đỏ), hang Ma Lang Chánh (Suối Bàng)… Riêng hang Ma Lang Chánh nằm trên vách đá ven hồ, lưu giữ các vết tích cử người đời xưa với những quan tài bằng gỗ, được xếp lại với nhau chất ngất trong hang, có niên đại trên 200 năm, mới được phát hiện. Tại đây, các nhà khảo cổ học còn phát hiện một hệ thống mộ táng trên dãy núi đá vôi có chiều dài trên 4km, gồm 5 hang động có chứa nhiều quan tài cổ, mỗi hang có từ 7 đến 9 quan tài đục bằng thân gỗ có hình thuyền đuôi én. Đây quả là những điểm du lịch kỳ thú, gợi mở cho các nhà khoa học, du khách đến tìm hiểu, khám phá, tham quan du lịch vùng hồ đầy chất thơ và huyền thoại này.
Thác Chiềng Khoa, hay còn gọi là Thác Mây được gắn bởi truyền thuyết của lễ hội Hoa ban Xên bản- Xên Mường. Thác nước đẹp như một dải mấy trắng vờn quanh thung sâu, tung bọt trắng xoá tạo nên những làn sương nhẹ thấm mát cả một vùng. Mùa hè đến, du khách nô nức về đây để được thoả sức ngâm mình bên dòng suối mát trong veo; hít thở bầu không khí trong lành của cao nguyên Châu Mộc; đắm mình cùng điệu xoè quấn quýt bên nhau trong nhịp trống chiêng vang rộn dưới ánh lửa bập bùng. Thác nước bản Vặt, một địa danh gắn liền với lịch sử cư trú rừ rất xa xưa của tộc người Thái trắng ở vùng đất Mường Sang xưa, Mộc Châu ngày nay. Thác bản Vặt, hay còn gọi là thác Nàng, thác Dải Yếm- là một cảnh quan sinh thái tuyệt đẹp được thiên nhiên ban tặng được ví như vẻ đẹp xuân sắc của người con gái tuổi trăng tròn đôi mươi…
Ngoài ra, vùng đất Sơn La hiện còn lưu giữ hơn 100 di tích lịch sử văn hóa và di chỉ khảo cổ, trong đó có 9 di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia. Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu vẫn còn đó, là một minh chứng về những tội ác của giặc Pháp và tinh thần anh hùng bất khuất của các chiến sĩ cách mạng Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc. Bảo tàng Sơn La lưu giữ những nét văn hoá đặc sắc của 12 dân tộc anh em sống ở Sơn La với hàng trăm di vật từ thời kỳ tiền sử, sơ sử được tìm thấy tại địa phương. Trong đó, gần 1.000 bản sách được ghi chép bằng chữ Thái cổ ở nhiều thể loại, như: sử thi, trường ca, truyện thơ dân gian… và nhiều vật dụng cầm tay bằng đá, sắt, hay trống đồng có niên đại nhiều nghìn năm, được tìm thấy trong các hang động, đang được bảo quản và trưng bày.
Về thành phố Sơn La, bạn còn được thoả sức đằm mình bên suối nước nóng thiên nhiên cách thành phố chưa đầy 5 km. Suối nước nóng bản Mòng (Hua La) đang trở thành một trong những địa chỉ hấp dẫn của tour du lịch đưa đón khách đến với thành phố trẻ. Về đây, mọi người có thể tùy thích chọn cho mình một phòng tắm ưng ý, giá cả phù hợp, phòng đôi có, phòng riêng có để thỏa sức ngâm mình, tận hưởng cảm giác khoan khoái của dòng nước khoáng thiên nhiên ban tặng. Để rồi bước tiếp lên nhà sàn thưởng thức món cơm lam thơm ngậy kèm theo miếng gà đồi chính hiệu nướng chín vàng chặt khúc, nhâm nhi với ly rượu đồ men lá, hưởng vị ngọt mềm của của những đĩa rau rừng mới hái, vị chua êm dịu của đĩa măng chua xào lòng gà, vị thơm nồng hương lúa mới của những chum rượu cần cong vít… Để rồi tất cả chủ và khách hòa quyện vào nhau cùng nắm tay đoàn kết, cất lên những lời ca, điệu múa quấn quýt, tay trong tay bên vòng xòe rộng mãi trầm bổng theo tiếng trống, tiếng chiêng giục giã vang dậy cả vùng…
Chào đón bạn, Sơn La đang mở rộng vòng tay, đón du khách thập phương đến để hoà mình cùng với thiên nhiên kỳ vĩ, những điểm du lịch hấp dẫn do thiên nhiên ban tặng, chắc chắn sẽ làm hài lòng du khách mỗi khi về thăm Tây Bắc- Sơn La.
Kỳ II: Về miền lễ hội truyền thống
Đến với Sơn La, bạn không chỉ được ngắm nhìn một vùng núi non hùng vĩ mà còn được khám phá về giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc vùng Tây Bắc với những vòng xòe cuốn hút, rượu cần ngây ngất men say, ánh lửa bập bùng và những làn điêu dân ca ngọt ngào…
Sơn La là nơi hội tụ sinh sống lâu đời của 12 dân tộc anh em: Thái, H’Mông, Kinh, Mường, Dao, Khơ Mú, Kháng, La Ha, Xinh Mun, Lào, Hoa, Tày. Giữa cái rất riêng của 12 dân tộc ấy là những nét rất chung, đó là sự giao hòa giữa các nền văn hóa. Phong tục tập quán và lễ hội truyền thống ở Sơn La mang nét đặc trưng riêng biệt của từng dân tộc. Nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc đang được gìn giữ, phát huy, tiêu biểu như các lễ hội: Vào mùa, Hoa Ban, Cầu mưa, Xên Mường, Kin Pang Then của dân tộc Thái; lễ hội Mợi của dân tộc Mường; Nào Sồng của dân tộc H’Mông; Pang A Nụn Pan của dân tộc La Ha; Mương A Ma của dân tộc Xinh Mun; Xên Pang Ả của dân tộc Kháng…
Mỗi độ xuân về, khi những cánh rừng đại ngàn Tây Bắc khoác trên mình màu xanh của lá, màu trắng tinh khôi của hoa ban, cũng là lúc các bản làng quê hương Sơn La rộn ràng vào mùa lễ hội. Một trong những lễ hội, biểu tượng của dân tộc Thái là Lễ hội “Xên Mường”. Lễ hội mang tính tín ngưỡng, tâm linh được tổ chức sau khi đã gieo trồng xong vụ mùa để cầu cho vạn vật bảo vệ con người, bản mường no ấm, mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, bản mường đoàn kết, cùng nhau xây dựng quê hương. Đến với lễ hội, du khách sẽ được chứng kiến các nghi lễ cúng các thần linh, cúng mường; tham gia vào lễ buộc chỉ cổ tay; qua cầu Mường; rước kiệu Nàng tánh; “vịt nặm” (té nước) cầu may. Đồng thời, tham gia vào chơi các trò chơi dân gian, như: Phan liêng; ném còn; tó mák lẹ, đẩy gậy, kéo co; thưởng thức những điệu múa tăng bu, tăng bẳng; múa au eo; múa khăn piêu; thi hát đối giao duyên. Khi đêm xuống, hoà vào người, tay nắm chặt tay, chung vòng xòe đoàn kết, uống rượu cần quanh đống lửa bập bùng và trầm bổng của tiếng trống, tiêng chiêng dồn thúc…
Cứ 2 năm một lần, sau vụ thu hoạch mùa màng, lễ hội Xên Pang Ả của dân tộc Kháng lại được tổ chức với quy mô một vùng, với mục đích mời các thần linh về hưởng lễ vật và những người được Pa Ả chữa cho khỏi bệnh (được coi là con nuôi) đến dâng lễ, tạ ơn, đồng thời để Pa Ả cầu chúc cho hồn vía các con nuôi khoẻ mạnh, làm ăn phát tài; là dịp để mọi người tạ ơn tổ tiên và các thế lực siêu nhiên đã giúp đỡ cho họ có sức khỏe, bản mường yên bình, no ấm. Lễ hội Xên Pang Ả còn tổ chức các trò chơi dân gian; hát đối đáp giao duyên; múa ống tre, múa khăn. Đặc biệt lễ hội còn là dịp để lớp thanh niên chưa vợ chưa chồng tìm hiểu, hẹn hò, kết duyên vợ chồng.
Khác với lễ hội Xên Pang Ả, lễ hội Mương A Ma của dân tộc Xinh Mun cũng thường được tổ chức 3 năm một lần sau vụ thu hoạch mùa màng, nhưng lại thường được tổ chức trong phạm vi gia đình kéo dài từ 2 đến 3 ngày, với sự tham gia của cả bản trong phần hội. Lễ hội Mương A Ma là một nét văn hóa tiêu biểu, đặc sắc nhất của dân tộc Xinh Mun, là một hình thức sinh hoạt văn hóa tập thể lành mạnh, góp phần tích cực vào việc vun đắp tình đoàn kết cộng đồng, giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, tạo ra bầu không khí vui tươi phấn khởi, hướng tới cái thiện, cái đẹp.
Lễ hội Mợi của đồng bào Mường ở vùng đất Phù Hoa có từ xa xưa thường được tổ chức vào những ngày đầu xuân. Lễ hội là dịp để ôn lại tục lệ, tín ngưỡng được lưu truyền qua các thế hệ về ngày hội khai xuân của đồng bào Mường. Phần lễ mang tính tín ngưỡng tâm linh sâu sắc, thể hiện sự trân trọng, cảm ơn tổ tiên, trời đất, sông núi đã phù hộ cho dân tộc sinh sôi phát triển, cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc. Phần hội với những nét nhạc vui nhộn được kết hợp với những động tác múa nón, múa khăn uyển chuyển, duyên dáng và những trò chơi dân gian mang nhiều ý nghĩa trong việc tái hiện nhưng nét đẹp trong lao động sản xuất cũng như cuộc sống thường ngày, như làm nương rẫy, cấy cày, thu hoạch mùa vụ, trồng bông dệt vải, tung còn, đánh yến, múa xạp… Tham gia vào lễ hội Mợi, bạn sẽ được đắm mình trong nhịp xoè thâu đêm quanh tiếng trống, tiêng cồng chiêng dồn thúc, ngất ngư cùng chum rượu cần…
Vào mùa nông nhàn, đồng bào Dao ở Sơn La lại quần tụ về các bản làng, dòng tộc để làm lễ “Lập Tịnh” (lễ đặt tên) cho những người con trai bước vào tuổi trưởng thành. Đây là nghi lễ quan trọng của người con trai mới lớn, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của người đàn ông. Đó là việc đặt tên mới khi đã trưởng thành, để từ đó người đàn ông được cộng đồng, dân bản và tổ tiên chấp nhận, được bàn bạc công to, việc lớn trọng họ tộc, làng bản. Cũng như các nghi lễ truyền thống khác, lễ lập tịnh góp phần điều chỉnh quan hệ xã hội trong huyết thống dòng tộc, lưu giữ những bản sắc văn hoá và củng cố tinh thần đoàn kết trọng cộng đồng. Những người được làm lễ Lập Tịnh bao giờ cũng phải tự điều chỉnh mình sống sao cho tốt đẹp hơn với cộng đồng, không làm điều sai trái, góp phần đoàn kết và yêu lao động. Sau lễ Lập Tịnh, dân bản tổ chức hát múa, liên hoan chúc mừng cho sự trưởng thành của chàng trai, trong đó nổi bật nhất là điệu múa Chuông (hát chèo) khoẻ khoắn được các chàng trai, cô gái Dao thể hiện thâu đêm, suốt sáng.
Gần đây, môn thể thao đua thuyền truyền thống của người dân vùng hồ sông Đà lại được khơi dậy. Có dịp về với vùng hồ vào mùa tích nước, bạn sẽ bắt gặp những cuộc tranh tài đua sức dẻo dai trên sông nước qua tiếng trống giục, tiếng khua chiêng vang dậy cả một khúc sông trong phút quyết định về đích.
Đặc biệt, đồng bào H’Mông còn có lễ hội « Nào Sồng ». Đây là nghi lễ tâm linh của dân bản trước mùa vụ mới; là niềm tin sâu đậm của của người dân trước những bí ẩn của thiên nhiên; là dịp để cộng đồng lập lại sự công bằng trong quan hệ nhiều chiều: giữa người và người; giữa người và vạn vật; giữa người và thế giới tâm linh; giữa người và vũ trụ, mang đậm màu sắc Á đông của người Việt nói chung, của các dân tộc sống trên mảnh đất Tây Bắc nói riêng về trời, đất và con người với ước mong thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
Lễ hội Nào Sồng thường được tổ chức vào khoảng trung tuần tháng một dương lịch hàng năm. Nhưng bây giờ, cứ vào dịp Tết độc lập (2-9) hàng năm, bà con lại đem nghi lễ này lên sân khấu để ôn lại truyền thống văn hóa rất riêng của đồng bào H’Mông. Sau phần lễ trang nghiêm, thành kính mang đậm màu sắc tâm linh, không có yếu tố mê tín dị đoan thì phần hội lại mở ra một không khí vui vẻ, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc thông qua sinh hoạt văn hóa văn nghệ. Du khách về thăm có thể thỏa sức đắm mình trong tiếng trống, tiếng khèn, hòa cùng những giai điệu lời ca, điệu múa ngất ngây trong hương rượu nồng và những trò chơi dân gian kỳ thú như: ném Pa pao, nhảy Tha kềnh, đánh Tu lu, Rồng ấp trứng, kéo co, bắn nỏ, giã bánh dày… Đây là nét văn hóa tộc người độc đáo, chứa đựng tất cả những khát vọng, những ước muốn tâm linh vừa trần tục vừa thiêng liêng, thiết tha và mãnh liệt của dân tộc H’Mông.
Ngoài ra, còn rất nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá của đồng bào các dân tộc hiện đang được gìn giữ, phát huy và tái phục dựng. Các lễ hội đó đều có chung mục đích là ước muốn vươn tới những điều tốt đẹp của đồng bào các dân tộc Sơn La, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Kỳ III: Những làn điệu dân ca say đắm lòng người
Sơn La là xứ sở của những cánh rừng đại ngàn hoa Ban trắng, là quê hương của những làn điệu dân ca say đắm lòng người. Nếu như hoa ban, hoa đào… là biểu tượng của các dân tộc ở Sơn La, thì những điệu múa, lời ca của họ cũng làm nên một vườn hoa muôn sắc và ngát hương, mang bản sắc văn hoá độc đáo, vẻ đẹp tâm hồn trong sáng và thấm đẫm tình người.
« Điệu xoè có từ bao giờ », câu hỏi ấy được nhạc sĩ Vương Khon (Điên Biên) nhắc lại đến nay vẫn chưa có câu trả lời. Bởi điệu xoè của đồng bào Thái đã có từ xa xưa lắm rồi. Xoè vòng là hình thức múa cộng đồng của dân tộc Thái luôn có sức hấp dẫn đặc biệt. Mỗi khi âm thanh trầm bổng, nhịp điệu của trống xòe nổi lên lại thôi thúc mọi người đến với vòng xòe. Một vài chục người thì làm một vòng xòe, hàng trăm người trở lên có thể chia ra nhiều vòng hay xếp vòng trong, vòng ngoài, nhiều nơi còn chia vòng theo lứa tuổi. Tham gia vào vòng xoè, du khách sẽ được tay trong tay, vai kề vai, chân người nọ dịch bước theo chân người kia trong không khí, tình cảm say sưa, đầm ấm theo nhịp trống, nhịp chiêng uyển chuyển và nghe câu khắp « Inh lả ơi !.. » trong ánh lửa bập bùng, rượu cần ngây ngất.
Điệu “nhảy khèn” của các chàng trai H’Mông là nét văn hoá độc đáo. Trong tiếng khèn lá dập dìu của các cô gái, các chàng trai cất lên tiếng khèn trầm bổng, dồn dập, kèm theo những động tác múa thể hiện tài năng, sự khéo léo và cả sức dẻo dai. Điểm độc đáo của “nhảy khèn” là các động tác múa đều mang tính ngẫu hứng rất cao với sự sáng tạo phong phú đến bất ngờ của từng cá thể, vừa phải đảm bảo vừa thổi khèn liên tục vừa quay tít nhiều vòng hoặc nhảy nhanh với những động tác chân phức tạp, có lúc lại lăn tròn dưới đất mà điệu khèn vẫn không dứt tiếng… Ông Tráng A Lứ, hiện đang là Phó Chủ tịch Uỷ ban MTTQ tỉnh, đồng thời là nghệ nhân « nhảy khèn », kể rằng: « Trước đây, các chàng trai H’Mông còn thi tài « nhảy khèn » quay trên lá chuối mà lá chuối không rách, quay trên đầu ba chiếc cọc gỗ nhỏ mà không ngã, thậm chí còn ly kỳ hơn là quay trên miếng ván bắc qua chảo nước nóng mà không bị bỏng ». Bên cạnh đó, các cô gái H‘Mông bắt nguồn từ sự giao thoa văn hoá đã phát triển thành điệu múa ô nổi tiếng với những chiếc ô màu sắc rực rỡ cứ xoay tròn, lên cao, xuống thấp, quấn quýt ôm lấy thân hình con gái tạo nên vẻ đẹp uyển chuyển và sinh động. Bây giờ, ở Mộc Châu, đồng bào H’Mông còn phục dựng thành công Hội nhảy « Tha Kềnh » (nhảy khèn tập thể) với nhiều tình tiết sôi động hấp dẫn mà cứ vào dịp Tết Độc lập 2-9 du khách lại được chiêm ngưỡng và thưởng thức điệu nhảy vui nhộn có một không hai trên thảo nguyên xanh.
Không kém phần nhộn nhịp là điệu múa Chuông của đồng bào Dao trong dịp Tết Thanh minh hay lễ Đặt tên. Những chiếc chuông được đúc bằng đồng thau, âm hưởng vang vọng, được lắc mạnh tạo thành nhịp đều đặn, những sợi tua mầu được tung lên, hạ xuống, lượn tròn thật nhịp nhàng, sinh động và khoẻ khắn. Xem múa Chuông, ta có cảm giác như được tung tăng, nhảy nhót giữa không gian cùng tiếng chuông thôi thúc cùng âm hưởng của núi sông vọng về, làm cho mọi người đều háo hức, hân hoan, hoà nhịp vào cùng lễ hội.
Cống tốp (một loại trống nhỏ, vỗ bằng tay vào hai mặt trống) – một loại trống độc đáo của đồng bào Khơ Mú. Tiếng ”cống tốp” là tiếng trống đầm ấm gọi mời của chàng trai, cô gái của người Khơ Mú. Dù ở bất cứ đâu, dù trong đêm trăng sáng hay bên ánh lửa hồng, tiếng trống cứ vang lên là con trai, con gái cùng háo hức bước chân, rạo rực nỗi lòng. Bởi trong tiếng trống đặc biệt ấy, họ tìm được bạn tình qua vũ điệu ”nộc Dung” (chim Công)- một vũ điệu được cấu tạo qua con mắt thẩm mỹ rất độc đáo của người Khơ Mú từ ngàn xưa truyền lại. Trong vũ điệu, người Khơ Mú không miêu tả vẻ đẹp lộng lẫy bên ngoài của chim Công mà họ tái hiện những cử chỉ của chúng thành những động tác múa sôi nổi, quyến rũ, lôi cuốn và gợi cảm… Để vũ điệu trở thành mê say trong sự giao duyên đầy ý nhị của đầu, của vai, của mông, trong những bước chân nhịp nhàng lẫn vào ánh trăng, hoà vào bóng núi, giữa bản mường quê hương…
Câu Đang, câu ví của dân tộc Mường là làn điệu dân ca chứa chan tình người đằm thắm, khát vọng được yêu tình yêu quê hương đất nước, sống trong tình đùm bọc thuỷ chung, son sắt và hạnh phúc trong tình người sẻ chia. Nghe hát Đang, hát ví giao duyên, con người ta có cảm giác như được đắm mình trong bản tình ca bất tận bởi dòng chảy của của những lời giai thoại, câu ví giao duyên chưa bao giờ có hồi kết. Hát Đang có mấy thể loại chính, đó là hát Đang truyền thống (các sự tích, các truyện dân gian, các truyền thống tốt đẹp của dòng tộc); hát Đang cách mạng (ca ngợi Đảng, Bác Hồ, cuộc sống đổi mới); hát Đang tình yêu (tình yêu đôi lứa, tình yêu bè bạn, mối tình không thành)… Còn hát ví giao duyên chủ yếu dùng thể loại thơ ca lục bát, gieo vần, mượn thơ ca để nói lên những điều từ đáy lòng mình chưa bộc lộ hết được với những mối tình dang dở, tình duyên mới bén… tạo thành những cuộc đấu trí lành mạnh, dí dỏm bằng những “lời có cánh” và những lời hay ý đẹp, tạo nên bầu không khí tìm hiểu lẫn nhau rất ý nhị, lành mạnh mà khoáng đạt như vốn sống của đồng bào Mường…
Văn hoá các dân tộc Sơn La thật đa dạng và phong phú, không thể lột tả hết được những cái hay, cái đẹp, cái giá trị văn hoá và thẩm mỹ được bảo tồn, lưu giữ và phát huy từ đời này qua đời khác. Có dịp dừng chân về với các bản mường, bạn sẽ hiểu và cảm nhận được những giá trị đích thực từ các điệu múa, làn điệu dân ca say đắm lòng người…
Kỳ IV: Thưởng thức các món ăn dân tộc
Khác với các món ăn thường thấy ở các khách sạn, nhà hàng hay những món ăn mới được chuyên mục “Sức sống mới” VTV1 giới thiệu trên Đài Truyền hình Việt Nam, các món ăn dân tộc ở Sơn La hầu hết các nguyên liệu được lấy từ cây rừng, từ ao vườn, ruộng đồng do những bàn tay khéo léo của các bà nội trợ chế biến thành món ăn đặc sản thơm ngon, khó quên và gợi mời.
Trước hết, phải kể đến món Cơm Lam, đây là món ăn thường thấy trong các tiệc tùng, lễ hội của nhiều dân tộc ở Sơn La. Được làm từ gạo nếp, nhưng cơm lam là loại cơm đặc biệt ngon vì nó không được nấu theo cách thức thông thường mà được đốt trên bếp củi bằng những ống tre rừng còn xanh non. Gạo nếp ngâm ủ qua đêm được cho vào từng ống tre non, một loại tre rừng đặc biệt có lớp vỏ lụa mỏng bên trong lòng, đổ thêm nước vừa đủ và nút lại bằng lá chuối rồi đưa lên bếp đốt cho đến khi vỏ ống tre cháy sém. Sau đó chẻ tách phần cật, chỉ còn lại lớp lụa mỏng bó chặt từng khúc cơm lam trắng nõn nà. Trên lớp vỏ lụa trắng mỏng ấy có thoáng chút mặn, chút hương của rừng và của khói làm cho khúc cơm lam vừa dẻo vừa thơm, chấm với muối vừng, chẩm chéo hay thịt hun khói thì đậm đà biết mấy.
Hay như món cháo “Mắc nhung” mang hương vị đặc trưng của núi rừng. Sau mùa gặt, quả mắc nhung gieo vãi trên nương bắt đầu chín mọng, bà con hái đem về rửa sạch, thêm gừng xả, trộn với gạo tấm, tưới ít nước đủ chín, túm vào lá chuối buộc chặt vùi trong tro bếp nóng, hoặc đồ xôi, chỉ 30 phút sau sẽ có ngay một món ăn sền sệt, ngăm ngăm đắng, thơm cay là lạ đầy hấp dẫn và chấm với xôi rất hợp khẩu vị. Ngày nay, cháo “Mắc nhung” đã trở thành món ăn đặc sản được mọi người ưa chuộng. Để có món cháo Mắc nhung (tiếng Mường gọi là plải ngố), người chế biến phải biết chọn loại tẻ thơm, nếu được tấm đầu vụ gặt non (như cốm) thì càng tốt. Dùng thịt sương sườn lợn nướng khô hay hun khói, băm nhỏ nấu nhuyễn với cháo tấm. Khi cháo chín tới cho quả Mắc nhung vào, đập dập củ gừng, ớt nướng và xả cả củ bỏ vào đáy nồi cháo, khuấy đều. Vài phút sau, đã có ngay món cháo “Mắc nhung” đặc sản thơm nồng, đặc sánh.
Vào mùa măng lay, măng đắng bà con vào rừng hái về, bó lại từng bó, luộc cả vỏ để măng mềm và có tác dụng hút bớt chất he, chất đắng. Món măng lay, măng đắng luộc chấm với “chẩm chéo”, kèm theo lá chát đã trở thành món ăn không thể thiếu trong các bữa tiệc lớn hay bữa cơm gia đình. Không có « chẩm chéo » món măng lay, măng đắng không thể ngon được. Chẩm chéo được chế biến từ muối, ớt tươi nướng, hành, tỏi, rau mùi…và đặc biệt không thể thiếu loại trái rừng có tên là mắc khén, tất cả được giã nhuyễn. Không có mắc khén không nên chẩm chéo, không có chẩm chéo không thành bữa cơm ngon. Cũng vào mùa măng, nhất là măng tre, măng bương, bà con dân tộc Thái, Mường thường hay hái đem về để làm « Nó xôm »(măng chua) ăn dần. Măng đem về thái nhỏ hoặc giã cho vào hũ ủ lên men, càng để lâu càng chua, càng thơm. Món măng chua chủ yếu để xào với thịt gà tơ hay các loại lòng lợn, gà và xào với thịt mỡ ăn đỡ ngấy và ghém với rau sống rất tuyệt vời. Cũng từ măng chua, bà con còn làm ra măng héo (Nó héo). Chỉ cần vắt măng chua kiệt nước phơi nhiều ngày cho khô quắt lại, đem đồ xôi, rồi lại phơi thật khô, sau đó cho vào ống hay gói lá khô để dùng dần. Nó héo là một đặc sản. Món lòng xào chỉ cần cho một nắm “Nó héo”, sẽ có vị chua ngon và rất thơm.
Ngày lễ tết của người Khơ Mú không thể thiếu được món canh Mọ, được chế biến từ các loại thịt chuột, chim, sóc sấy khô băm nhỏ trộn với hoa chuối, các loại rau thơm, ớt chỉ thiên, mắc khén, tấm gạo nếp cho vào ống tre, bương bánh tẻ, đổ nước vào đem đốt (như đốt cơm lam). Khi sôi lấy que tre vót nhọn sọc liên tục đến khi nhuyễn. Khi đổ ra bát nó sền sệt, sánh dùng xôi nếp nắm chấm quệt ăn rất thơm ngon. Ngoài ra, người Thái cũng thường hay làm món Mọ gà, được chế biến từ cổ, cánh, bộ lòng mề gà, băm nhỏ, mắc khén, ớt khô, củ sả giã nhỏ, bột gạo nếp trộn với nhau cho vào lá chuối túm lại bỏ vào chõ xôi sôi lên. Khi chín, vớt ra ta có một món canh đặc sánh, sền sệt, ăn với xôi hoặc cơm lam thì tuyệt vời biết mấy…
Pa pỉnh tộp (cá nướng), nhứa dảng (thịt hun khói) là món ăn truyền thống không thể thiếu trong các bữa tiệc đãi khách của người dân Sơn La. Cũng là con cá lấy từ suối, từ ao, nhưng món Pa pỉnh tộp được chế biến bằng cách rạch mổ trên sống lưng, moi sạch lòng, cho mắc khén, ớt, gừng, sả và gia vị vào, gập đôi con cá lại gắp nướng. Khi chín mở ra, gia vị ngấm đều, ăn miếng cá nướng cảm thấy dậy mùi rất thơm ngon và hấp dẫn. Về với phiên chợ nổi trên hồ sông Đà, du khách còn được thưởng thức món cá lam với xả, tôm trần chấm mắm, cá sông nướng bếp củi nóng ròn, thơm ngậy, nhắm với rượu đồ, bồng bềnh nghiêng ngả cùng sóng nước mênh mang…
Món bắt tay sau khi cụng ly cạn chén với khách mời cũng là một đặc sản. Rồi những tiệc tùng giã bạn, tay trong tay, “Sơn La thấp, Sơn La cao” với những điệu xoè cuốn hút mê say trong tình cảm bịn dịn kẻ đi người ở. Sau khi liên tục “au hảnh” (cạn ly) rồi ngất ngây bên hũ rưọu cần cong vít và ánh mắt nhìn lúng liếng mê hồn của mấy cô gái Thái…để rồi tình đã say, men đã ngấm, đành cho ra “sản phẩm”, mọi người mới bừng tỉnh và thốt lên rằng: “Thảo nào thằng Pháp thua trận ở Điện Biên bởi vì nó bị ngắc ngoải bại trận từ Sơn La rồi!”
Nói vui vậy thôi, chứ thú thật bạn hãy thử một lần lên Tây Bắc, đến với Sơn La giàu lòng hiếu khách, có dịp quây quần ngồi bên bếp lửa hồng, nhâm nhi một ly rượu đồ men lá hay làm « một sừng » rượu cần nồng nàn, ăn một miếng cơm lam, hay một bát cháo Mắc nhung ngọt ngào; thưởng thức một miếng thịt hun khói, một đĩa măng lay… thì mới cảm nhận hết được hương vị núi rừng của nền văn hoá ẩm thực nơi đây.
Kỳ cuối : Đánh thức tiềm năng thuỷ điện
Bởi có tiềm năng nhiều sông, nhiều suối lớn, nên Sơn La có thế mạnh để phát triển ngành công nghiệp thuỷ điện. Những năm gần đây, các nhà đầu tư liên doanh trong và ngoài nước đã chọn Sơn La để làm điểm đầu tư xây dựng các công trình thuỷ điện lớn, vừa và nhỏ. Vì thế mà khắp các địa phương trong tỉnh, đâu đâu cũng mọc lên những công trình thuỷ điện, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Hôm nay, trên địa bàn tỉnh Sơn La còn có gần 50 công trình thủy điện vừa và nhỏ có công suất từ 30MW- 520MW cũng đang được các nhà thiết kế, đầu tư của đoàn quân làm ra ánh sáng gấp rút thi công. Trong đó, phải kể đến công trình thủy điện Huội Quảng nằm trên suối Nậm Mu, thuộc xã Chiềng Lao, có tuyến đập nằm trên đất Than Uyên (Lai Châu). Công trình được khởi công từ đầu năm 2006, do Ban quản lý dự án Thủy điện 1, thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư và các đơn vị thành viên của Tổng Công ty Sông Đà, Bộ Giao thông Vận tải, Tổng công ty xây dựng Trường Sơn tham gia thi công. Công trình gồm 2 tổ máy, có tuyến hầm dẫn dòng xuyên qua lòng núi dài gần 8,4 km. Dung tích hồ chứa nước đạt 184,2 triệu m3 nước, diện tích lưu vực mặt hồ hơn 2.824 km2; công suất lắp máy 520MW; điện lượng trung bình đạt 1.904 triệu KWh/năm. Công trình dự kiến hoàn thành đi vào hoạt động vào cuối năm 2015.
Trước tiên là công trình thủy điện Sơn La lớn nhất đất nước nằm trên sông Đà, thuộc địa phận huyện Mường La, được khởi công từ năm 2005, có quy mô tổng diện tích 2.070 ha, mặt đập bê tông có chiều dài 1,2 km, chiều rộng 99 m, dung tích hồ chứa nước đạt 9,26 tỷ m3 nước, gồm 6 tổ máy, có công suất lắp máy đạt 2.400MW, tổng mức đầu tư hơn 37 ngàn tỷ đồng, sản lượng điện hàng năm đạt trên 19,2 tỷ KWh, dự kiến phát điện tổ máy số 1 vào năm 2010.
Đây là công trình thuỷ điện trọng điểm của Quốc gia không chỉ có quy mô hiện đại, nhà máy trần đặt giữa lòng sông, thi công thân đập chính bằng công nghệ bê tông đầm lăn đầu tiên trên nước ta, mà còn là công trình có số dân phải di chuyển lớn nhất, trong đó Sơn La trên 12.500 hộ, Điện Biên gần 4.000 hộ, Lai Châu 3.200 hộ. Hiện tại, trên công trình thuỷ điện Sơn La luôn có trên 11 ngàn cán bộ, kỹ sư, công nhân thuộc 13 đơn vị công ty, xí nghiệp của Tổng Công ty Sông Đà làm Tổng thầu và các đơn vị thành viên: LICOGI, LILAMA và Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn tham gia thi công. Sau khi hoàn thành, đây sẽ là một điểm du lịch lý tưởng bằng đường thuỷ từ Sơn La lên Điện Biên, Lai Châu hay về Hoà Bình; là điểm dừng chân kỳ nghỉ cuối tuần sau những ngày làm việc căng thẳng; là nơi thông thương thuận lợi và ngắn nhất qua các tuyến từ Sơn La đi Than Uyên (Lai Châu), Mù Cang Chải (Yên Bái).
Cùng với thuỷ điện Huội Quảng là công trình thủy điện Nậm Chiến 1 nằm trên suối Chiến thuộc địa phận bản Khâu Vai, xã Ngọc Chiến do Công ty cổ phần thủy điện Nậm Chiến đảm nhận thi công, gồm các thành viên của Tổng công ty Sông Đà, Tập đoàn dầu khí, Công ty Cavico, Công ty Điện lực 1, Công ty Tài chính Dầu khí đảm nhận thi công từ tháng 11-2005. Công trình có tổng mức đầu tư trên 4.174 tỷ đồng, hệ thống đập vòm cao nhất Đông Nam Á, gồm 2 tổ máy với công suất 200MW, khi nhà máy đi vào họat động sẽ cung cấp cho lưới điện Quốc gia 846 triệu KWh/năm, dự kiến phát điện tổ máy số 1 vào năm 2011. Công trình có tuyến năng lượng dài 9,8 km đào xuyên trong lòng núi. Diện tích mặt hồ 420 ha, dung tích hồ chứa đạt 154,75 triệu m3, cao trình đập 953 m. Đây là công trình thuỷ điện có quy mô hiện đại, kỳ vĩ không chỉ tuyến năng lượng được đào xuyên trong lòng núi dài hơn 9,8 km, mà hệ thống giao thông được sẻ dọc xuyên qua những vách núi đá dựng đứng, uốn lượn qua vùng hồ dài trên 10 km ở độ cao trên 1.800m so với mặt biển sẽ là điểm du lịch sinh thái vô cùng hấp dẫn trong nay mai.
Là cung bậc thuỷ điện thứ ba sau thuỷ điện Nậm Khốt, Nậm Chiến 1, công trình thuỷ điện Nậm Chiến 2 nằm trên cùng dòng suối Chiến thuộc địa phận xã Chiềng San (Mường La), cũng được khởi công xây dựng từ đầu năm 2007, do Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Điện Tây Bắc làm chủ đầu tư và các đơn vị thuộc Công ty Sông Đà 1, Sông Đà 5, Sông Đà 7, Sông Đà 9, Sông Đà 10, Sông Đà 11, Sông Đà 25, Công ty Cavico và Công ty Toàn Phát đảm nhận thi công. Công trình có quy mô gồm 1 đập đầu mối trên cao trình 275m; 1 tuyến năng lượng đào xuyên trong lòng núi có chiều dài đường hầm 2,65km; 1 tháp điều áp và hệ thống nhà máy gồm 2 tổ máy với công suất lắp máy 32MW, điện lượng trung bình đạt 132,14 triệu KW/h. Công trình có tổng vốn đầu tư gần 630 tỷ đồng, dự kiến cuối năm 2010 đưa cả 2 tổ máy vào hoạt động.
Ngoài ra, trên địa bàn còn có các công trình thủy điện Nậm La, thuộc địa bàn xã Mường Bú; Nậm Khốt, thuộc xã Ngọc Chiến; Nậm Pia, thuộc xã Chiềng Hoa; Nậm Công 1, Nậm Công 2, thuộc xã Chiềng Công; Nậm Trai, thuộc xã Hua Trai (Mường La); Nậm Pàn (Mai Sơn) ; Suối Sập 1, Suối Sập 2 (Phù Yên) ; Suối Sập 3, Xím Vàng, Nậm Chim (Bắc Yên); Nậm Sọi, Nậm Công, Bó Sinh (Sông Mã)… cũng đang được các nhà đầu tư gấp rút thi công… Khi các công trình thuỷ điện hoàn thành, mỗi năm sẽ góp vào dòng điện lưới Quốc gia hàng tỷ KWh điện.
Cùng với thủy điện, đã có hàng trăm km đường giao thông tránh ngập trải nhựa áp phan, cùng với những cây cầu cứng hiện đại được làm mới nối đôi bờ, làm cho những khúc sông, con suối, thung sâu ngàn thuở nay được xích lại gần. Đồng thời, mở ra một triển vọng mới, một tiềm năng du lịch và kinh tế dịch vụ, tạo cơ hội cho bà con các địa phương trong tỉnh vượt lên đói nghèo, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội. Để hôm nay, mỗi người dân Sơn La đều có thể tự hào khi nhắc đến hai từ: “Thủy điện”.
Sơn La – phố núi thật giàu bản sắc và tiềm năng. Mới chỉ vài nét văn hoá giản đơn trong cuộc sống hàng ngày, văn hoá ẩm thực, sinh hoạt tinh thần và những tiềm năng thế mạnh vật thể và phi vật thể của vùng sơn cước, đã tạo thành lời mời gọi, thành cớ giữ chân, thành lời nhắn nhủ, ước hẹn gặp lại. Chào đón bạn, Sơn La đang mở rộng vòng tay!
Nguồn: Báo Sơn La



Thảo luận gần đây